Hoàng Kim Giáp – Wikipedia tiếng Việt

Hoàng Kim Giáp (Giản thể: 满城尽带黄金甲; bính âm: Mǎnchéngjìndàihuángjīnjiǎ; Hán Việt: Mãn thành tận đới hoàng kim giáp; tiếng Anh: Curse of the Golden Flower) là một bộ phim võ thuật, chính kịch được biên kịch và đạo diễn bởi Trương Nghệ Mưu.[1] Tựa đề tiếng Quan thoại của phim là dòng cuối trong một bài thơ của Hoàng Sào, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại nhà Đường từ năm 875 tới năm 884.[2]

Với kinh phí 45 triệu US$,[3] vào thời điểm ra mắt, Hoàng Kim Giáp vượt qua Vô cực của đạo diễn Trần Khải Ca, trở thành phim Trung Quốc đắt giá nhất mọi thời đại.[4] Tác phẩm được chọn đem đi tranh giải Phim ngoại ngữ hay nhất tại Oscar lần thứ 79 nhưng không nhận được đề cử.[5][6][7] Dù vậy, phim vẫn được đề cử cho hạng mục Thiết kế phục trang đẹp nhất.[8] Năm 2007, tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 26 phim nhận được 14 đề cử và 4 giải thưởng bao gồm Giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (Củng Lợi), Giải chỉ đạo hành động xuất sắc nhất (Trình Tiểu Đông), Giải thiết kế trang phục và trang điểm đẹp nhất (Hề Trọng Văn) và Giải nhạc phim hay nhất (ca khúc “Đài hoa cúc” của Châu Kiệt Luân).[9]

Chuyện phim dựa trên nội dung vở kịch “Lôi Vũ” của Tào Ngu, nhưng bối cảnh bị đẩy lùi từ Thiên Tân hiện đại về thời Hậu Đường thuộc Ngũ đại Thập quốc.[10]

Một bối cảnh trong phim Hoàng Kim Giáp

Phim lấy diễn biến và diễn biến dựa vào vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu, nhưng được đẩy lùi toàn cảnh về thời Ngũ Đại Thập Quốc. Thời Ngũ Đại Thập Quốc, quốc gia Nước Trung Hoa thời phong kiến cuộc chiến tranh liên miên. Vua Hậu Đường trước khi lên ngôi đã có quan hệ tình cảm với một cô thôn nữ và có hai con, gồm một trai ( đại hoàng tử ) và một gái. Tuy nhiên, ông lại che giấu thực sự để kết hôn và lấy công chúa của nước láng giềng làm hoàng hậu. Cô thôn nữ nuốt hận ôm con gái và để lại đứa con trai rồi bỏ đi, lấy Tưởng thái y làm chồng. Trong tiệc tùng Cúc hoa, Hoàng hậu cùng Vương tử Nguyên Kiệt ( cùng cha khác mẹ ) ở trong hoàng tộc đã khởi quân lật đổ Đại vương nhưng không thành công xuất sắc. Vì thấy có lỗi với mẹ mình nên Nguyên Kiệt đã rút kiếm tước đoạt được từ trong tay một tên lính của Đại Vương rồi tự sát. Quá đau buồn trước cái chết của con trai mình, nên mẹ Nguyên Kiệt hất chén thuốc ( có độc ) văng trúng vào biểu trưng tượng trưng cho triều đại của Đại Vương khiến vật đó bị hoen ố và biến dạng trọn vẹn do chén thuốc ( có độc ) mà nên .

  • Châu Nhuận Phát trong vai Đại vương (tương ứng Chu Phác Viên trong Lôi vũ của Tào Ngu)
  • Củng Lợi trong vai Vương hậu (tương ứng Phồn Y trong Lôi Vũ)
  • Châu Kiệt Luân trong vai Vương tử Nguyên Kiệt (元杰) (tương ứng Lỗ Đại Hải trong Lôi Vũ)
  • Tần Tuấn Kiệt trong vai Vương tử Nguyên Thành (元成) (tương ứng Chu Xung trong Lôi Vũ)
  • Lưu Diệp trong vai Thái tử Nguyên Tường (元祥) (tương ứng Chu Bình trong Lôi Vũ)
  • Nghê Đại Hoành trong vai Tưởng thái y (tương ứng Lỗ Quý trong Lôi Vũ)
  • Trần Cẩn trong vai Nguyên Phối phu nhân (tương ứng Thị Bình trong Lôi Vũ)
  • Lý Mạn trong vai Tưởng Thiền (蔣 嬋), con gái Tưởng thái y, thực ra là con Đại vương (tương ứng Lỗ Tứ Phượng trong Lôi Vũ).

Nhan đề phim[sửa|sửa mã nguồn]

Nhan đề Hoàng Kim Giáp lấy từ câu cuối của một thi phẩm thời Đường của Hoàng Sào, nhan đề “Bất đệ hậu phú cúc” (xem đầy đủ tại Thơ của Hoàng Sào):

Nguyên văn Hán văn: 滿城盡帶黃金甲。

Phiên âm Hán-Việt: Mãn thành tận tới hoàng kim giáp.

Tạm dịch nghĩa : Áo giáp vàng ở đầy dưới đất khắp cố thành .

Phần âm nhạc trong phim do nhạc sĩ người Nhật Umebayashi Shigeru (梅林茂, Umebayashi Shigeru?, Mai Lâm Mậu) phụ trách. Shigeru Umebayashi cũng chính là nhạc sĩ của các phim Tâm trạng khi yêu và 2046 (đạo diễn Vương Gia Vệ, diễn viên Lương Triều Vĩ, Trương Mạn Ngọc), Thập diện mai phục (House of Flying Daggers) năm 2004 của Trương Nghệ Mưu, phim Tô Khất Nhi của đạo diễn Viên Hòa Bình, Hoắc Nguyên Giáp (Fearless) của đạo diễn Vu Nhân Thái, chỉ đạo võ thuật Viên Hoà Bình, ngôi sao Lý Liên Kiệt thủ vai năm 2006

Bên cạnh việc tham gia diễn xuất trong phim, Châu Kiệt Luân cũng thể hiện hai ca khúc nhạc phim, một bài tên “Chrysanthemum Terrace” hay Cúc Hoa Đài (tiếng Trung: 菊花台; bính âm: Júhuā tái), phát hành trong album 2006 Still Fantasy và bài còn lại trích từ mini album Curse of the Golden Flower (EP) có tên “Golden Armor” hay Hoàng Kim Giáp (tiếng Trung: 黄金甲; bính âm: Huángjīn jiǎ).

Tất cả những nhân vật nữ trong phim từ hoàng hậu tới những cung nữ đều mặc phục trang cung đình hở vòng một nhiều, khiến phim này bị người theo dõi chế giễu. [ 11 ] Chiếc áo long bào để Châu Nhuận Phát mặc được may bằng nhiều sợi chỉ vàng 18 K có giá thành lên tới 1,25 triệu Nhân dân tệ. [ 12 ] Việc phục trang trong phim này đã mang về cho nhà phong cách thiết kế Hề Trọng Văn ( Yee Chung-Man ) một giải Kim Tượng và một đề cử cho giải Oscar lần 79, năm 2006 – 2007

  • Giải Kim Tượng năm 2007 với 13 đề cử[13] đã mang lại 4 danh hiệu (in đậm là đoạt giải):[14]
  1. Phim hay nhất: xếp hạng 4
  2. Đạo diễn xuất sắc nhất (Trương Nghệ Mưu): hạng 4
  3. Nam diễn viên chính xuất sắc nhất (Châu Nhuận Phát): hạng 4
  4. Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (Củng Lợi)[14]
  5. Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất (Châu Kiệt Luân hạng 4 và Lưu Diệp hạng 5)
  6. Kỹ thuật quay phim xuất sắc nhất: Triệu Tiểu Đinh (趙小丁) hạng 5
  7. Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất (Trình Tiểu Đông)[14]
  8. Trang phục xuất sắc nhất: Hề Trọng Văn (奚仲文)[14]
  9. Vũ đạo
  10. Best Original Film Score: Shigeru Umebayashi hạng 4
  11. Ca khúc hay nhất: Đài hoa cúc (菊花台), phổ nhạc và biểu diễn: Châu Kiệt Luân, lời: Phương Văn Sơn[14]
  12. Thiết kế âm nhạc xuất sắc nhất: Tao Jing & Roger Savage hạng 3
  13. Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất: Angela Barson, Frankie Chung Chi Hang, John Leonti & Sze Cheuk Wah hạng 3
  • Dạ yến (phim 2006): một phim có bối cảnh nội dung tương tự của đạo diễn Phùng Tiểu Cương

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

1 thought on “Hoàng Kim Giáp – Wikipedia tiếng Việt”

  1. Pingback: bảng Ngọc bổ trợ và Cách lên đồ Olaf Rừng mới nhất - Thabet

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *