Dương gia tướng – Wikipedia tiếng Việt

Dương gia tướng (tiếng Hán: 杨家将) là tiếng tôn xưng dòng họ Dương của danh tướng Dương Nghiệp (? – 986) thời Bắc Tống. Từ là Dương Nghiệp cho đến Dương Tái Hưng (1104 – 1140) đều là những người có nhiều công lao cho đất nước Trung Quốc thời Tống, chống lại sự xâm lăng của các bộ tộc phương Bắc, đây là một gia tộc đã cống hiến cho nhà Tống hầu hết các thành viên của gia đình mình cho công cuộc bảo vệ đất nước.[chú 1]

Dòng họ Dương Gia tướng được nhiều tác phẩm văn học, truyện tranh, điện ảnh đề cập đến và luôn được miêu tả như một mái ấm gia đình có truyền thống lịch sử trung nghĩa, một mái ấm gia đình võ học với tuyệt kỹ trứ danh ” Dương gia thương ” ( cốt lõi là chiêu thức Hồi mã thương ), tuy nhiên, mái ấm gia đình này luôn bị triều đình nhà Tống nghi kỵ, gây khó khăn vất vả và thường bị những gian thần trong triều hãm hại .

Trong văn hóa truyền thống[sửa|sửa mã nguồn]

Lịch sử Trung Quốc cho biết Dương gia tướng bắt nguồn từ danh tướng Dương Kế Nghiệp đời Bắc Tống. Từ Dương Kế Nghiệp cho đến Dương Tái Hưng đều là những người có nhiều công lao cho quốc gia Trung Quốc thời Tống, chống lại sự xâm lăng của những bộ tộc phương Bắc như Liêu, Kim, Tây Hạ, đây là một gia tộc đã góp sức cho nhà Tống và được tiếng là khả tôn, khả kính .

Chuyện về Dương gia tướng trong dân gian có 2 hệ thống lớn là “Dương gia phủ thế đại trung dũng thông tục diễn nghĩa” (gọi tắt là “Dương gia phủ diễn nghĩa”) và “Nam Bắc Tống chí truyện” (hay còn gọi là “Dương gia tướng truyện”, “Dương gia tướng diễn nghĩa”). Trải qua nhiều đời có rất nhiều phiên bản trong hí kịch cũng như tiểu thuyết bình thư. Mỗi phiên bản cũng khác nhau rất nhiều. Truyện “Dương gia tướng hệ liệt” được đưa vào thông qua thân thế Hô Diên Tán. Hô Diên gia cùng Dương gia có liên hệ, nên cũng có một bản bình thư là “Hô gia tướng”. Cả truyện từ đầu đến cuối kể về đấu tranh trung-gian trong triều đình. Các trọng thần ủng hộ Dương gia tướng có Bát Hiền vương, Khấu Chuẩn, Bao Chửng, còn bọn người áp chế, hãm hại Dương gia lần lượt là Phan Nhân Mỹ (Phan Mỹ), Vương Khâm Nhược, Bàng Hồng (Bàng Tịch).
Trong tác phẩm Thủy Hử, Thanh diện thú Dương Chí một trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc cũng là hậu nhân của Dương Nghiệp. Trong các tác phẩm của Kim Dung như bộ Anh hùng xạ điêu và Thần điêu đại hiệp có các nhân vật như Dương Thiết Tâm (là hậu nhân của Dương Tái Hưng), Dương Khang (con của Thiết Tâm) và Dương Quá đều là những nhân vật có võ nghệ cao cường.

Đã có nhiều bộ phim có đề cập về Dương Gia Tướng như : Bao Thanh Thiên của Đài Loan có những nhân vật bạn bè nhà Dương Gia Thanh, Bộ phim Dương Môn Hổ Tướng ( năm 2003 ) của Trung Quốc có sự tham gia của diễn viên Nước Hàn Chae-rim và nam diễn viên Tô Hữu Bằng, bộ phim Thiếu niên Dương gia tướng ( 2006 ) với sự tham gia của Hồ Ca, Hà Nhuận Đông, Bành Vu Yến, Ông Gia Minh, Trần Long, … Các loạt phim của Hồng Kông về Dương gia tướng như Dương gia tướng ( 1985 ) có sự tham gia của những diễn viên Lương Triều Vĩ, Huỳnh Nhật Hoa, Châu Nhuận Phát, Lưu Đức Hoa cùng một số ít bộ phim khác bộ phim Mộc Quế Anh đại phá thiên môn trận, Bích huyết thanh thiên Dương Gia Tướng, Bích huyết thanh thiên Trân Châu Kỳ, …

Các thế hệ[sửa|sửa mã nguồn]

Các thế hệ Dương Gia Tướng được bổ trợ trải qua những tác phẩm kinh kịch, văn học và điện ảnh. Thực tế trong lịch sử vẻ vang, Dương gia tướng chỉ gồm có : Đời thứ nhất Dương Kế Nghiệp, đời thứ hai Dương Diên Chiêu ( con trai thứ trưởng của Dương Kế Nghiệp ) và đời thứ ba Dương Văn Quảng ( con thứ ba của Dương Diên Chiêu ). Tính theo những loại phỏng truyện và lịch sử dân tộc thì nhà họ Dương phò vua tới 5 đời : từ Dương Kế Nghiệp, Dương Lục Lang ( Dương Diên Chiêu ), Dương Tôn Bảo ( Dương Tông Bảo ), Dương Văn Quảng, cho đến là Dương Hoài Ngọc ( quy ẩn về quê ) .

Trong chính sử[sửa|sửa mã nguồn]

  • Dương Nghiệp (楊業) hay Dương Kế Nghiệp (杨继业), còn gọi Dương Lệnh Công (楊令公) (923 – 986), tên gốc là Trọng Quý, người Tịnh Châu Thái Nguyên (nay là Sơn Tây Thái Nguyên). Đảm nhiệm Thiếu sư thời hoàng đế khai quốc nhà Bắc Hán Lưu Sùng, được ban họ Lưu, đổi tên là Kế Nghiệp. Làm quan đến Thị vệ thân quân Mã bộ quân Đô ngu hầu, lĩnh chức Tiết độ sứ Kiến Hùng quân, được gọi là “kiêu tướng Thái Nguyên”. Khi Tống Thái Tông bình định Bắc Hán, lệnh cho ông phục hồi họ Dương, tên một chữ Nghiệp, thụ chức Phòng ngự sứ Trịnh Châu, tri Đại Châu kiêm Tam giao trú bạc binh mã đô bộ thự, phòng ngự Khiết Đan, có công thăng làm Quan sát sứ Vân Châu. Trong cuộc chiến hang Trần Gia, chiến đấu đến kiệt sức mà bị bắt, tuyệt thực 3 ngày mà chết đền nợ nước, thọ 64 tuổi. Ông được truy phong Kiểm giáo thái úy, Tiết độ sứ Đại Đồng quân, con là cung phụng quan Dương Diên Lãng thụ phong Sùng Nghi phó sứ, điện trực Dương Diên Phổ, Dương Diên Huấn làm cung phụng quan, Dương Diên Hoàn, Dương Diên Quý, Dương Diên Bân làm điện trực, còn Dương Diên Ngọc cũng tử trận trong hang Trần Gia.
  • Dương Diên Chiêu (杨延昭), tên gốc là Diên Lãng, con lớn của Dương Nghiệp, từng theo cha chinh chiến, bảo vệ Nhạn Môn Quan hai lần, tham gia Bắc Phạt, trường kỳ đảm nhiệm Bảo Châu Duyên biên đô tuần kiểm sứ, Cao Dương quan lộ Mã bộ quân phó đô bộ thự, chức quan đến Mạc Châu Phòng ngự sứ, trấn giữ biên giới hơn 20 năm, quân Liêu đánh tới chỉ có đại bại dưới tay ông. Ông cùng danh tướng khác là Dương Tự được gọi là “Nhị Dương”, làm Khiết Đan kiêng kỵ, xưng là “Dương Lục Lang”. Trước khi chết 2 năm, bởi vì kỵ húy Triệu Huyền Lãng nên ông đổi tên là Diên Chiêu, chết năm 57 tuổi. Con là Truyền Vĩnh, Đức Chính, Văn Quảng được thụ phong.
  • Dương Văn Quảng (楊宗保) tên chữ là Trọng Dung, con trai Dương Diên Chiêu. Theo Địch Thanh chinh Nam, làm Cung bị khố sứ, sung làm Quảng Nam Tây lộ binh mã kiềm hạt. Theo Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm đánh Hạ thời đầu Nhân Tông; tham gia đánh Hạ vào thời Anh Tông, lập đại công thường được xưng là danh tướng. Ông trường kỳ nhậm chức tại biên giới với Hạ, Liêu, chức quan đến Hưng Châu Phòng ngự sứ, Thị vệ thân quân Bộ quân Đô ngu hầu, Định Châu lộ binh mã phó tổng quản, sau khi chết được truy phong Đồng Châu quan sát sứ.

Theo những tác phẩm văn học và điện ảnh[sửa|sửa mã nguồn]

Đời thứ nhất[sửa|sửa mã nguồn]

  • Dương Nghiệp (楊業) hay Dương Kế Nghiệp (杨继业), còn gọi Dương Lệnh Công (楊令公): Được xây dựng là nguyên soái trấn biên cương của Tống quốc, hết lòng trung can, dù biết vua tin nịnh thần nhưng ông ta vẫn tôn trọng vua, nếu hoàng thượng muốn, chết không từ nan, chữ trung đối với Dương Nghiệp quá quan trọng, thà bỏ con chứ không thể không cứu chúa. Các con rất kính nể Dương Nghiệp, là một người cha mẫu mực.
  • Xà Tái Hoa (佘賽花), còn gọi Dương Lệnh Bà (楊令婆), Xà Thái Quân (佘太君): là người vợ của Dương Nghiệp, một phụ nữ trung liệt, có Long đầu trượng của triều đình ban thưởng, trên đả hôn quân, dưới đả loạn thần.

Đời thứ hai[sửa|sửa mã nguồn]

Gồm bảy người con trai, hai người con gái và một người con nuôi:

Đời thứ ba[sửa|sửa mã nguồn]

Đời thứ tư[sửa|sửa mã nguồn]

  • Dương Văn Quảng (楊文廣) hay Dương Tuyên Khải (杨文广), con trai của Dương Tông Bảo và Mộc Quế Anh.
    • Đan Dương công chúa, vợ Dương Văn Quảng.
    • Bách Hoa Nữ, vợ Dương Văn Quảng.
    • Mộ Dung Quế Anh, người Tiên Ti, vợ Dương Văn Quảng.
    • Tiểu Đậu Tử, người Tây Hạ, vợ Dương Văn Quảng.
    • Triệu Linh Nhi, Bình Dương công chúa – con gái rơi của Tống Nhân Tông và một phụ nữ người Liêu, vợ Dương Văn Quảng.
  • Dương Kim Hoa (楊金花) con gái duy nhất của Dương Tôn Bảo và Mộc Quế Anh. Vũ khí: kiếm bạc, dương gia thương.
  • Dương Văn Cơ (杨文姬) hay Dương Tuyên Nương (楊宣娘), con gái của Dương Tôn Nguyên (đã chết trong tay quân Liêu).

Đời thứ năm[sửa|sửa mã nguồn]

  • Dương Hoài Ngọc: con trai Dương Văn Quảng, quy ẩn.

Nhân vật khác[sửa|sửa mã nguồn]

Sự khác nhau[sửa|sửa mã nguồn]

Dương gia thất tử

Tác phẩm
Đại lang
Nhị lang
Tam lang
Tứ lang
Ngũ lang
Lục lang
Thất lang

Tống sử
Dương Diên Lãng
(延朗)
Dương Diên Chiêu
(楊延昭)
Dương Diên Phổ
(楊延浦)
Dương Diên Huấn
(楊延訓)
Dương Diên Ngọc
(楊延玉)
Dương Diên Hoàn
(楊延環)
Dương Diên Quý
(楊延貴)
Dương Diên Bân
(楊延彬)

Dư tẫn lục
Dương Uyên Bình
(楊淵平)
Dương Diên Phổ
(楊延浦)
Dương Diên Huấn
(楊延訓)
Dương Diên Hoàn
(楊延環)
Dương Diên Quý
(楊延貴)
Dương Diên Chiêu
(楊延昭)
Dương Diên Bân
(楊延彬)

Dương gia tướng diễn nghĩa
Dương Uyên Bình
(楊淵平)
Dương Diên Định
(楊延定)
Dương Diên Huy
(楊延輝)
Dương Diên Lãng
(楊延朗)
Dương Diên Đức
(楊延德)
Dương Diên Chiêu
(楊延昭)
Dương Diên Tự
(楊延嗣)

Dương gia phủ diễn nghĩa
Dương Uyên Bình
(楊淵平)
Dương Diên Quảng
(楊延廣)
Dương Diên Khánh
(楊延慶)
Dương Diên Lãng
(楊延朗)
Dương Diên Đức
(楊延德)
Dương Diên Chiêu
(楊延昭)
Dương Cảnh
(楊景)
Dương Diên Tự
(楊延嗣)

Phi long toàn truyện
Dương Diên Bình
(楊延平)
Dương Diên Định
(楊延定)
Dương Diên Huy
(楊延輝)
Dương Diên Lãng
(楊延朗)
Dương Diên Đức
(楊延德)
Dương Diên Chiêu
(楊延昭)
Dương Diên Tự
(楊延嗣)

Thiết kỳ trận
Dương Thái
(楊泰)
tự Diên Bình
(楊延平)
Dương Vĩnh
(楊永)
tự Diên Tông
(楊延宗)
Dương Cao
(楊高)
tự Diên An
(楊延安)
Dương Quý
(楊貴)
tự Diên Huy
(楊延輝)
Dương Xuân
(楊春)
tự Diên Đức
(楊延德)
Dương Cảnh
(楊景
tự Diên Chiêu
(楊延昭)
Dương Hi
(楊希)
tự Diên Tự
(楊延嗣)

  1. ^ Trích lời trình làng của cuốn Dương Gia tướng diễn nghĩa .
  2. ^ Tên của nhân vật Tứ Lang hoàn toàn có thể do tác động ảnh hưởng từ tên khác của Dương Diên Chiêu là Dương Diên Lãng ( 杨延朗 ) .

Leave a Comment

Your email address will not be published.