34. Diệt Đế


PHÁ MÊ KHAI NGỘ

 Lê Sỹ Minh Tùng

34.

Diệt đế

Bạn đang đọc: 34. Diệt Đế


(Nirodha Dukkha) (Cessation of Suffering)

Qua hai phần Khổ đế và Tập đế thì tất cả chúng ta đã quen thuộc với đời là biển khổ và nguyên do nào đưa đến những cảnh khổ nầy. Nói như vậy, không phải Đức Phật chỉ cho tất cả chúng ta thấy đời là biển khổ để tất cả chúng ta nhìn cuộc sống này toàn là một màu đen âm u ảm đạm và không có chút ánh sáng. Sống như thế thì ích lợi gì ? Và chân lý như vậy thì làm thế nào mà gọi là chân lý tối thượng cho được ? Xin vấn đáp rằng giáo lý nhà Phật là một giáo lý trọn vẹn viên mãn để mang lại niềm hạnh phúc chân thực cho tổng thể mọi người. Đứng về phương diện tâm ý thì Đức Phật cho ta thấy rằng : khi đói thì mình mới đồng cảm được giá trị lúc được no, cũng như kẻ nghèo thì sẽ sung sướng khi được giàu sang và khi đau ốm mới thấy giá trị của lúc còn lành mạnh. Cùng một ý nghĩa đó, Đạo Phật không phải chỉ ra mắt những cảnh khổ ải, thê lương để gieo vào lòng tất cả chúng ta sự chán đời và vô vọng, mà có mục tiêu để khai thị cho chúng sinh biết rõ tận nền tảng của mọi sự khổ để tìm chiêu thức đạt đến một chân niềm hạnh phúc và chứng được Niết Bàn. Trong trần gian này tất cả chúng ta thường thấy có hai hạng người : 1 ) Hạng người thứ nhất là họ nhìn đời sống này với một tư tưởng sáng sủa. Họ rất yêu đời chính do họ đang tận hưởng giàu sang giàu sang và công danh sự nghiệp thành đạt. Cuộc đời này so với họ thì khi nào cũng đẹp như bài thơ nên họ không cần phải tu nhân tích đức và lo cho ngày mai. Họ nghĩ rằng với sự giàu sang như vậy thì người khác cần đến họ chứ họ chả cần đến ai. Đối với những người nầy thì vật chất, tiền tài và danh vọng đã làm tâm lý của họ bị lu mờ. Họ chỉ thấy thời nay mà quên đi ngày mai. Họ chỉ biết hiện tại mà không nghĩ gì đến kiếp tương lai. Phật giáo gọi họ là những kẻ không sáng suốt, mê muội. Tai sao thế ? Chúng ta thấy trên trần gian nầy có ai giàu sang, quyền thế hơn vua Tần Thủy Hoàng rất lâu rồi chưa ? Vậy vua nhà Tần giờ đây ở đâu ? Có lẽ ông ta đã tiêu ma thành cát bụi từ mấy ngàn năm rồi còn đâu nữa mà an hưởng ! Nên nhớ là cuộc sống tạm bợ mà tất cả chúng ta đang sống nầy chẳng khác chi là quán trọ chứ đâu phải là nhà. Họ hoàn toàn có thể sung sướng ngày này hoặc là kiếp nầy nhưng ngày mai, kiếp sau thì sao ? Họ hoàn toàn có thể thoát ra khỏi cảnh ốm đau, già yếu được không ? Còn thân tứ đại của họ lê dài được bao lâu để cho họ an hưởng ? Cái sung sướng vật chất tạm bợ có phải là sung sướng chân thực không ? Hay là càng giàu thì càng lo ! Càng trèo cao thì càng té nặng. 2 ) Còn hạng người thứ hai là loại người mưu trí và có trí tuệ sáng suốt. Thật vậy, chỉ có sự thức tỉnh sáng suốt mới cho tất cả chúng ta thấy đâu là mê, đâu là thật. Không phá mê thì làm thế nào mà khai ngộ cho được ? Những niềm hạnh phúc trên trần gian nầy đều là sự sung sướng giả tạo. Bởi vì khi vừa mới chớm thấy sung sướng thì tất cả chúng ta đã lo ngại bồn chồn, không biết sự sung sướng này sẽ lê dài bao lâu. Lo lắng là đau khổ chứ ai gọi là sung sướng khi nào. Thế thì chưa thấy sung sướng mà đau khổ đã hiện lên rồi. Người thông trí tuệ thì biết rằng mọi cấu trúc trên trần gian đều là vô thường gồm có cả cái thân tứ đại của tất cả chúng ta. Một khi đã là vô thường thì làm thế nào mà sống sót không bao giờ thay đổi mãi mãi cho được. Nay có, mai không, lúc ẩn, lúc hiện biến chuyển quay cuồng theo thời hạn. Vậy đâu là chân niềm hạnh phúc ? Đây là điểm hay nhất trong hàng loạt giáo lý của Đức Phật vì nó là cứu cánh của chúng sinh khi tu đạo. Thử nghĩ cả đời tất cả chúng ta nỗ lực tu hành mà sau cuối không đạt đến chỗ này được thì thực là uổng công phí sức. Cũng như người học viên cho dầu có học tập cực khổ cách mấy mà không thi đỗ thì chẳng ích lợi gì. Công trình dồi kinh mài sử chẳng khác nào như dã tràng xe cát biển đông mà thôi. Chỉ khi nào tất cả chúng ta chứng được chân niềm hạnh phúc thì lúc đó tất cả chúng ta mới thật sự đạt được niềm hạnh phúc viên mãn và không còn bị chi phối bởi luật sanh tử luân hồi cũng như không còn phiền não chấp trước đeo đuổi ta nữa. Vậy thế nào là chân niềm hạnh phúc ? Phật giáo không dạy con người những niềm hạnh phúc tạm bợ nhất thời của trần gian vì chính nó là cội nguồn của biết bao lo âu phiền não và khổ đau sau nầy. Chẳng hạn như tất cả chúng ta vừa mới mua một cái nhà thật sang thật đẹp. Ngày tân gia chắc như đinh phải là ngày mà mái ấm gia đình hảnh diện và niềm hạnh phúc. Nhưng cái niềm hạnh phúc nầy lê dài bao lâu ? Vài tháng sau thì chủ nhà phải lo ngại nào là tiền nhà, tiền thuế, tiền bảo hiểm, tiền bảo dưỡng và bao nhiêu món tiền khác tương quan đến căn nhà nầy. Vậy cái niềm hạnh phúc nhất thời trong vài tháng đầu có phải là cội nguồn của biết bao lo ngại buồn chán của những năm tháng sau nầy. Vì thế niềm hạnh phúc mà đạo Phật nhấn mạnh vấn đề ở đây chính là sự an nhàn, thanh tịnh trong tâm của con người. Đây chính là Niết bàn trong trần gian vậy. Sau cùng, Diệt đế là chân lý chân thực, chắc như đinh và giúp chúng sinh đạt được một niềm hạnh phúc chân thực, viên mãn. Một khi chúng sinh chứng được quả vị nầy thì chúng sinh đó đã chứng được Niết Bàn vậy. Nhưng trước khi nói về Niết Bàn, chúng tôi muốn trình làng đến quý vị tất cả những quy trình tiến độ từ lúc mới khởi đầu tu cho tới khi đạt đến quả vị Bồ-tát, và Phật. Vâng, đây không phải là việc thuận tiện mà đạt được. Nhưng nếu tất cả chúng ta cố gắng nỗ lực trì công thì giấc mơ kia một ngày nào đó sẽ biến thành thực sự. Bởi vì rất lâu rồi Nguyễn Bá Học cũng nói : ” Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông ”. Hay là : ” Không sợ bông hồng kia có quá nhiều gai, mà chỉ sợ trong những gai kia không có một đóa hoa hồng mà thôi ”. Thật vậy, Đức Phật đã hiểu rõ sự khó khăn vất vả nầy nên Ngài đã chế ra 84,000 pháp môn khác nhau để giúp chúng sinh tùy theo căn nguyên và năng lực của mình mà nỗ lực tu hành ngõ hầu đạt thành chánh quả. Do đó mới có câu : “ Nắm lấy chuổi tràng trần niệm dứt, Nghiểm nhiên thành Phật đã từ lâu ”. Vậy tất cả chúng ta phải qua những tiến trình nào ? Tu Gia Hạnh : Đây là quá trình khởi đầu trong cuộc sống tu hành của tất cả chúng ta. Việc tiên phong là phải trải qua giáo lý cơ bản của đạo Phật khởi đầu từ luật Nhân quả Luân hồi, thuyết Vô thường Vô ngã, Nghiệp căn và Nghiệp báo, Từ Bi hỷ xả, Bố thí, Trì giới và ở đầu cuối là Tứ diệu đế. Một khi quý vị đã nắm chắc những điều cơ bản đó thì những điều thấy biết sai lầm đáng tiếc điên đảo sẽ tan biến mất. Tuy nhiên, muốn trừ bỏ tổng thể mọi Kiến hoặc, thì tất cả chúng ta phải cần nhiều thì giờ tu tập để loại mọi thành kiến mê lầm của phàm phu mà đến Thánh trí để dự vào vòng Thánh quả. 1 ) Tu-Đà-Hoàn : Một khi đã qua được tiến trình đầu thì ý thức của tất cả chúng ta đã sáng suốt không còn bị mê lầm nữa. Tuy nhiên thất thức vẫn còn chấp ngã nên tất cả chúng ta vẫn còn nằm trong vòng luân hồi sanh tử. Một khi phá được cái chấp ngã thì tất cả chúng ta đã chứng được vị Tu-Đa-Hoàn. 2 ) Tư-Đà-Hàm : Sau khi chứng được quả Tu-Đà-Hoàn ở trên, có nghĩa là tất cả chúng ta đã loại được Kiến hoặc nhưng chưa đụng tới Tư hoặc. Tư hoặc là loại nặng ký và gồm có 9 phần ( hạ hạ, hạ trung, hạ thượng, trung hạ, trung trung, trung thượng, thượng hạ, thượng trung, thượng thượng ). Nếu tất cả chúng ta đạt được 6 phần đầu thì quý vị đã chứng được Tu-Đà-Hàm. Đây là quả vị thứ hai trong Thánh văn thừa. 3 ) A-Na-Hàm : tạm dịch là bất lai, có nghĩa là không quay trở lại cõi dục nữa. Đây là quá trình cực kỳ quan trọng của kẻ tu hành chính bới khi bước qua ngưỡng cửa này thì họ không còn ảnh hưởng tác động của sự sanh tử nữa. Họ sẽ không còn bị tái sanh trừ khi chính họ phát nguyện trở lại cõi nầy để độ sanh. Nếu tất cả chúng ta cố gắng nỗ lực đạt 3 phần còn laị của Tư hoặc thí quý vị đã chứng được quả A-Na-Hàm. 4 ) A-La-Hán : Khi tất cả chúng ta đã bỏ được những mê lầm của Kiến hoặc và Tư hoặc thì việc sau cuối là phải nỗ lực vô hiệu phần còn lại của mê lầm là Vi Tế hoặc.

Ø Đối với Tham vi tế, chúng ta có thể dùng Thiền định để đạt minh Tâm kiến tánh hoặc Niệm Phật cho đến khi nhất Tâm bất loạn để chế phục và tiêu diệt nó.

Ø Đối với Sân vi tế, so với loại nầy thì thật khó mà phân biệt được những hiện tượng kỳ lạ li ti nầy chính bới nó chỉ phát hiện dưới hình thức tiềm năng. Chẳng hạn như đôi lúc tất cả chúng ta cảm thấy chán nản buồn chán mà không hiểu tại sao. Những tình cảm này Open rất yếu ớt đến nổi tất cả chúng ta chỉ hoàn toàn có thể cảm nhận nó một cách mơ hồ hoặc là đôi khi không hề phân biệt được. Để trừ Sân vi tế, con người phải phát tâm Bồ-đề, tham thiền hay niệm Phật để làm cho tâm trong lành, hiền hòa. Cố gắng làm cho mọi người được an vui thì tâm của họ sẽ an tịnh. Ø Đối với Si vi tế, chúng sinh phải phát huy trí tuệ để giúp cho tâm thanh tịnh chính do trí tuệ khi nào cũng thắng vô minh. Khi đã vô hiệu mọi Vi Tế thì chúng sinh đã chứng được quả A-La-hán. Đây là quả vị cao nhất trong Thanh văn thừa. Đến đây, thì quý vị có phước đức trọn vẹn, trí tuệ cao quý, không còn bị phiền não quấy phá, và đương nhiên không bị luân hồi sanh tử chi phối nữa. Đối với con người, thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử là một thành công xuất sắc vĩ đại chính bới họ không bị sống chết, khổ đau, lo buồn và sợ hãi chi phối nữa. Khi đã chứng được quả vị A-La-hán thì chúng sinh có hai lựa chọn : 1 ) Nếu chúng sinh thỏa chí với vị thế này mà không muốn phát tâm tu thêm để đạt những quả vị cao hơn thì được gọi là Bất hối tâm đơn A-la-hán. 2 ) Nếu chúng sinh có lợi căn lợi trí và muốn phát tâm tu luyện thêm chứ không tự mãn ở vị thế đã chứng thì được gọi là Hồi tâm đại A-la-hán. Thêm một điểm nữa là khi tu luyện, hể tất cả chúng ta đoạn trừ mê lầm được chừng nào thì chứng quả đến chừng ấy chớ không phải chờ sanh qua kiếp khác mới chứng được quả kia đâu. Một khi quý vị chứng được quả Tu-Đa-Hoàn thì chúng sinh có được 5 phép thần thông sau đây : 1 ) Thiên nhãn thông : là có nhãn lực nhìn thấy khắp muôn loài cùng sự sanh hóa trong trần gian bát ngát hiện tại. 2 ) Thiên nhĩ thông : là có nhĩ lực để nghe khắp mọi nơi gồm có loài người và lòai vật. 3 ) Tha tâm thông : là có tâm lực biết được tâm niệm sở cấu của kẻ khác. 4 ) Túc mạng thông : là có trí lực hiểu biết những kiếp trước của mình. 5 ) Thần tức thông : là hoàn toàn có thể thu nhận được thần thông tự tại như ý muốn. Năm phép thần thông nầy, tuy có phần đặc biệt quan trọng hơn người thường nhiều nhưng chưa đạt được điểm quan trọng nhất là Lậu Tận Thông. Bởi vì chứng được lậu tận thông sẽ mang đến trí tuệ thông suốt của ba đời. Không còn bị những phiền não làm ngăn cản và thoát ra được cảnh sanh tử luân hồi. Chỉ có những vị A-la-hán mới chứng được quả vị này. Sau cùng, Đức Phật dạy chúng sanh phải trãi qua 55 quả vị thì mới thành Phật được. Đó là : Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ gia hạnh, Thập địa và sau cuối là Đẳng giác. Song song với 55 quả vị nầy thì chúng sinh còn phải đương đầu với 50 món ma và đây là những điều nguy hại nhứt trên đường tu hành. Chúng ta hiện tại đang sống trong thời mạc pháp thành thử không có gì là lạ khi tất cả chúng ta nghe có người tự xưng mình là Bồ-tát nầy hay Quán Thế Âm nọ. Đức Phật khi còn sanh tiền đã nghiêm cấm những đệ tử của Ngài về việc mạo xưng này. Phật dạy rằng : ” A Nan, chính thật Bồ-tát hay A-la-hán thị hiện, mà còn không cho người biết, tại sao những người phàm phu lại dám mạo nhận xưng mình là Phật, hay Bồ-tát … Cũng như người cùng đinh, mà mạo xưng mình là Đế vương, thì sẽ bị tội tru diệt. A Nan, nếu người tu hành, không đoạn trừ đại vọng ngữ, mà muốn được đạo, thì cũng như người tự cắn cái rún của mình, làm thế nào mà cắn được ”.

Khi nói về tâm phiền não, tâm ô nhiễm thì có người hỏi: Nếu tâm này (tâm ô nhiễm) bị diệt thì lấy gì để tiếp tục tu hành? Xin thưa: Tâm của chúng ta có hai phần: chơn thể và vọng tưởng. Khi diệt, thì chúng ta chỉ diệt cái tâm “vọng tưởng” mà thôi chớ không phải diệt cái “chơn thể” của tâm. Cũng như vì gió mà làm cho nước nổi sóng. Nếu gió ngừng thì sóng sẽ lặn chớ nước không bị diệt.

1 thought on “34. Diệt Đế”

  1. Pingback: Hỏi đáp - Thabet

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *